Từ điển
Tra từ điển:

 
Chinh phục Fansifan

Hỗ trợ trực tuyến
My status
Số lượt người xem:
002518834
Hôm nay221
Hôm qua1394
IP của bạn:54.196.206.80
Hiện có 117 khách Trực tuyến

Warning: Parameter 3 to plgContentFootnotes::onBeforeDisplayContent() expected to be a reference, value given in /home/lamkieu/domains/lamkieu.com.vn/public_html/libraries/joomla/event/event.php on line 67

Khổng Minh và giấc mơ Hoàng đế "thỏ non"

 Khổng Minh và giấc mơ Hoàng đế "thỏ non"(Phần I)

Gần đây nhiều học giả cho rằng ngay từ khi xuống núi Gia Cát Lượng đã có ý tranh đoạt thiên hạ, muốn tự mình xưng đế. Ngay việc chọn tập đoàn Lưu Bị để đầu quân cũng không nằm ngoài mục tiêu tối thượng này. Không phải ngẫu nhiên khi “mọi người hỏi chí của Khổng Minh ra sao? Khổng Minh chỉ cười mà không đáp”. Nhưng với dã tâm lớn như vậy, tại sao khi trong tay nắm đại quyền nhiếp chính lại được sự cho phép của Lưu Bị “nếu con ta bất tài, người có thể phế đi, tự làm hoàng đế” Gia Cát Lượng không phế Lưu Thiện, tự lập mình làm hoàng đế? Điều này, ắt hẳn không thể lý giải một cách đơn giản hời hợt được.

1. Danh bất chính, ngôn bất thuận, Khổng Minh khó bề ngấp nghé ngôi cao


Có người cho rằng: “Vào lúc đó, luận về công, Gia Cát Lượng như thần xã tắc; luận về quyền bính, từ chính trị, quân sự ngoại giao, không kể to nhỏ ông ta đều nắm cả; luận về tài trí A Đẩu Lưu Thiện so với Gia Cát Lượng là một trời một vực; luận về đức vọng, thừa tướng Gia Cát Lượng sớm đã ân nhuần tứ phương, hơn nữa còn nhận mệnh của Tiên chủ rằng: ‘Con ta có thể phò được, thì cố gắng phò trợ, nếu như bất tài, ngươi có thể thay’, trong số trăm quan, không có ai dám không theo. Có thể thấy Gia Cát Lượng có đủ điều kiện thay thế Lưu Thiện” (Trần Ngọc Bính, Bàn khí phách đạo đức và ảnh hưởng của Gia Cát Lượng đối với nền chính trị Thục Hán, đăng trên Tây Nam dân tộc học viện học báo, Chuyên san nghiên cứu lịch sử, 1986). Thực tế thì Gia Cát Lượng có đủ điều kiện để phế Lưu Thiện, tự mình làm hoàng đế hay không? Tôi cho rằng, tình hình thực tế không giản đơn như vậy.

Mọi người đều biết, từ khi kiến lập quốc gia phong kiến đại thống nhất từ Tần Hán trở đi, địa vị của hoàng đế là tối cao vô thượng, “quyền của vua là do thần trao cho”, thần thánh cũng không thể xâm phạm. Dưới sự tuyên truyền của Nho giáo, quan niệm “Thiên tử nhận mệnh ở trời, (vì vậy) thiên hạ phải nhận mệnh của thiên tử” đã thâm nhập vào trong tầng sâu ý thức của mỗi người. Cho nên, quyền thần muốn thoán ngôi đoạt ngai vàng thật là không dễ chút nào, ngược lại chắc chắn là một hành động vô cùng mạo hiểm. Nếu không chuẩn bị đầy đủ, điều kiện không chín muồi, khinh suất mà phát động chính biến, không chỉ dẫn đến họa sát thân, mà còn bị tru di tam tộc. Triệu Dực nói rằng: Từ xưa đến nay chỉ có hai kết cục, hoặc nhường ngôi hai là chinh phạt, còn như quyền thần cướp ngôi thì sẽ mang danh là thoán nghịch nên thường bị giới hạn không dám phạm tội. Vương Mãng thực ra là bất đắc dĩ mới công khai thoán ngôi nhà Hán. Như Chu Công phò tá Thành Vương, dùng danh nhiếp chính mà nắm quyền lực nhưng Chu Công chưa từng một ngày có thiên hạ. Cho đến Tào Ngụy cũng có ý muốn thay đổi triều Hán nhưng không muốn mang danh thoán đoạt. (Trập nhị sử trát ký, quyển 7, điều “nhường ngôi”).
 
Khổng Minh Gia Cát Lượng
Triều Hán kéo dài hơn 400 năm, quyền thần nắm quyền tuy xuất hiện không ít nhưng lại rất ít người dám ngấp nghé ngôi cao. Vương Mãng thay nhà Hán, khổ tâm hơn 10 năm trời, nhưng cuối cùng vẫn nhận lấy thất bại. Đến những năm cuối đời Đông Hán, Đổng Trác lộng hành, Viên Thuật xưng đế đều không kịp trở tay mà vong mạng. Tào Tháo phá giặc Khăn vàng, diệt Lã Bố, hạ anh em họ Viên, “thiên hạ chia ba thì trong tay có đến hai phần” nhưng khi Tôn Quyền viết thư xưng thần, gọi Tào Tháo là “ứng thiên mệnh” (ứng với mệnh của Trời), Tào Tháo chỉ nói: “là ngươi muốn ta làm việc không chính đáng” (Tam Quốc chí, quyển 1, Vũ đế kỷ, chú dẫn Ngụy lược), “Nếu như thiên mệnh ứng vào ta, ta nhất định sẽ là Chu Văn Vương rồi” (Tam Quốc chí, quyển 1, chú dẫn Ngụy thị xuân thu). Cho đến cuối đời Tào Tháo vẫn không dám đăng cơ chiếm ngôi báu của hoàng đế nhà Hán.

Gia tộc Tư Mã thoán đoạt nhà Tào Ngụy cũng phải trải qua quá trình chuẩn bị suốt ba thế hệ, trải qua rất nhiều những hiểm nguy. Triệu Dực nói rằng: Họ Tư Mã ba đời đều gắn bó với Ngụy. Tư Mã Ý dưới trướng Thừa tướng, được tặng cửu tích nhưng không dám nhận. Thừa tướng lại ban vũ khí vàng, cho đeo kiếm vào điện cũng không dám nhận. Đến Chiêu trở thành Tướng quốc, được tặng cửu tích, thêm 10 quận, tước là Tấn công cũng hơn 10 năm, đến cuối đời mới bắt đầu chịu mệnh Tấn vương, nhưng cũng giống như Tháo, vẫn chưa từng xưng là đế. Cho đến con là Viêm mới thực hiện việc truất ngôi nhà Ngụy, lập nên nhà Tấn. (Trập nhị sử trát ký, quyển 7, mục “Nhường ngôi”). Ấy cũng là do họ sợ phải mang tội danh thoán đoạt bị muôn đời chửi rủa.

So với Tháo, điều kiện “nhân hòa” trong việc xưng đế của Lưu Bị nhiều hơn. Tào Tháo thay nhà Hán, bất kể tạo ra lý do gì cũng rất khó mà xóa được tiếng xấu là thoán đoạt. Nếu đoạt ngôi nhà Hán, Tào Tháo sẽ bị người sau gọi là quốc tặc. Nhưng Lưu Bị thì không như vậy. Lưu Bị có phải dòng dõi Hán Cảnh Đế, Trung Sơn Tĩnh Vương hay không, ở đây tạm thời không bàn, nhưng ông ta vẫn có thể coi là dòng dõi nhà Hán. Năm 220 trước CN, Tào Phi phế Hán lập Ngụy, trong tình thế dòng dõi Hán triều bị gián đoạn, do “vì điều tín nghĩa trước phải lo cho bốn bể”, đồng thời cũng đã chiếm được Ích Châu, Lưu Bị tự xưng là Hán Trung Vương kế thừa đại thống nhà Hán, gánh vác trọng trách phục hưng tôn thất nhà Hánt. Cho nên việc xưng đế của Lưu Bị là danh chính ngôn thuận, vừa thấu tình vừa đạt lý.

Nhưng cho dù như vậy, trong tập đoàn Lưu Bị vẫn có người phản đối. Khi “quần thần đang bàn luận, đòi Hán Trung Vương xưng tôn hiệu”, quan của Ích Châu khi trước là Tư Mã Phí Thi tâu rằng: “Điện hạ (chỉ Lưu Bị) vì cha con họ Tào bức chủ đoạt ngôi cao, nên mới phải tha hương nơi vạn dặm, tập hợp quần sĩ những muốn chinh phạt phản tặc. Nay việc lớn chưa thành mà trước đã tự lập làm vua, e rằng lòng người còn có chỗ hồ nghi. Xưa kia Cao Tổ cũng từng giao ước với Sở (chỉ Hạng Vũ), trước phá Tần, sau đánh Hàm Dương, bắt Tử Anh mới luận công. Huống hồ nay điện hạ còn chưa xuất môn, đã muốn tự lập mình làm đế rồi sao! Ngu thần thành thật xin bệ hạ không nên” (Tam Quốc chí, quyển 41, Phí Thi truyện).

Ngay cả việc Lưu Bị kế thừa nhà Hán cũng có người cực lực phản đối, huống chi là Gia Cát Lượng là một mưu sĩ khác họ, thân mình lại mang trọng trách phò tá ấu chúa do Tiên đế gửi gắm, nếu phế nhà Hán mà xưng đế, thay đổi ngai vàng chẳng phải là một tội lớn mạo phạm đến thiên hạ hay sao?

Quả thực, khi Lưu Bị lâm chung có nhận lời cho Gia Cát Lượng tự mình nắm chính quyền, lên làm vua, nhưng đó tuyệt đối không phải là hy vọng của Lưu Bị mà chỉ là lựa chọn cuối cùng không thể khác. Vì rõ rằng, trước đó Lưu Bị còn đưa ra một điều kiện là chỉ khi Lưu Thiện “bất tài” Khổng Minh mới được phế bỏ để tự lập mình làm vua. Khi Gia Cát Lượng còn chấp chính, Lưu Thiện vẫn còn “thân hiền thần, xa kẻ tiểu nhân”, tôn trọng lời của phụ thân, “coi Gia Cát Lượng như cha”, cho nên Trần Thọ mới ca ngợi Lưu Thiện rằng: “vị vua đối xử với hiền tướng theo lễ” (Tam Quốc chí, quyển 33, Hậu chủ truyện). Như vậy Gia Cát Lượng còn có lý do gì để có thể phế truất Lưu Thiện đây?

2. Nuôi mộng soán ngôi, Gia Cát một mực “đem quân ra Kỳ Sơn”?


Sau khi Lưu Bị chết, Gia Cát Lượng một mình nắm đại quyền trong tay nhưng vẫn chưa thể kiến lập một quyền bính tuyệt đối trong triều Thục Hán. Gia Cát Lượng với tài năng chính trị “trị quốc an dân” cho đến tài năng ngoại giao “liên Ngô kháng Ngụy” mọi người đều biết nhưng tài năng quân sự thì rốt cuộc ra sao? Khi Lưu Bị còn sống, quyền của Lượng chỉ là “lo việc phủ dụ dân chúng và hiến kế” chưa từng thấy ông ta một mình dẫn binh chiến đấu. Ai cũng biết rằng, một thời đại chiến tranh như Tam Quốc, nếu không dùng võ trị thì không thể lập nước được. Tào Tháo, Tư Mã Ý, Tôn Sách, Chu Du, Lục Tốn,… đều nhờ có tài năng quân sự kiệt xuất mà uy trấn các chư hầu, vang danh thiên hạ. Gia Cát Lượng nếu muốn thay nhà Hán, tất phải tạo cho mình một quyền bính tuyệt đối và danh vọng cực cao trong triều đình Thục Hán. Muốn làm được điều này, trước hết phải cần phải có những chiến công quân sự hiển hách.

“Hán tặc (chỉ Tào Tháo) vẫn còn tồn tại, nghiệp vua cũng không an” (Tam Quốc chí, quyển 35, Gia Cát Lượng truyện, chú dẫn Hán Ngụy Xuân Thu). Đối với chính quyền Thục Hán mà nói, không Bắc phạt tất chỉ còn cách ngồi đợi chết. Còn đối với cá nhân Gia Cát Lượng mà nói, không Bắc phạt sẽ không thể hiện được tài năng quân sự của ông ta, sĩ nhân ở Thục sẽ không tâm phục khẩu phục, cũng không cách gì tạo lập cho mình danh tiếng, uy vọng, cuối cùng cũng không thể đạt đến mục đích ngồi vào ngai vàng của hoàng đế. Không phải ngẫu nhiên, giọng điệu chính của “bậc sư biểu” Gia Cát Lượng trước sau chỉ có hai chữ: Bắc phạt.

Sau khi Gia Cát Lượng nhiếp chính, phổ biến cho trên dưới trong nước một chính sách bất biến là “nếu không tiêu diệt cái mầm họa sâu xa là Ngụy thì ngôi đế khó mà ở lâu dài, trọng trách trao vào Gia này, dù cho mất 10 mạng sống cũng chịu được huống hồ là cửu tích”. Lời nói này của Gia Cát Lượng thực tế là ngụy tạo, nhưng lại để lộ chân tình trong thâm tâm của ông ta. Bởi vì một khi Bắc phạt thành công, Gia Cát Lượng công sẽ cao ngất trời, không còn có ai có thể so sánh được nữa. Một khi công cao không còn gì xứng để thưởng nữa thì việc ông ta muốn phế kẻ “bất tài” Lưu Thiện để tự mình làm hoàng đế cũng đã có một “nguồn vốn chính trị” khá hùng hậu, chắc chắn rồi.

Mục đích Bắc phạt của Gia Cát Lượng thực chất là để nhận được cửu tích, tiến một bước đến mục tiêu thay nhà Hán, xưng đế. Hơn một trăm năm sau Gia Cát Lượng, quyền thần Đông Tấn cũng muốn dùng cách tương tự để đạt đến mục đích xưng đế. Đông Tấn an phận ở phía tả sông, Trung Nguyên và cả hai kinh đều bị người Hồ chiếm cứ, trên dưới vua tôi Đông Tấn không thể không dùng Bắc phạt để làm cớ công khai dựng lá cờ chính trị ở kinh đô cũ. Nhưng việc Bắc phạt của Đông Tấn là con dao hai lưỡi. Đối với triều đình Đông Tấn mà nói, Bắc phạt mà thành công thì có thể thu hồi đất cũ, thống nhất Hoa Hạ nhưng quyền thần cũng sẽ vì công trạng đó mà rất khó chế ngự. Các quyền thần Đông Tấn vì thế mới lấy việc Bắc phạt để gia tăng thanh thế và uy vọng chính trị của mình trong triều đình. Đến khi Bắc phạt thành công, khi được cắt đất, phong vương, nhận cửu tích thì cũng là lúc đã có đủ điều kiện để thay ngôi đổi chủ.

Sử chép: “Hoàn Ôn dựa vào tài lực của mình, sớm đã ôm ấp chí khác nên đầu tiên mới lập công trạng, còn nhận cửu tích”, đến khi thất bại của Ân Hạo bị phát hiện thì “quyền lực đã nằm cả trong tay Ôn rồi”. Hoàn Ôn lãnh binh Bắc phạt, hai lần trước tuy cũng thu được những chiến thắng nhất định nhưng năm Thái Hòa thứ 4 (tức năm 369), lần thứ ba Bắc phạt mới nhận kết cục thảm bại. Hoàn Ôn “khi gặp thất bại, danh tiếng đều tiêu tán”. Hơn nữa trong sự ngăn cản của các đại gia tộc như Tạ An, Vương Bưu, Hoàn Ôn muốn ôm mộng nhận cửu tích cũng rất khó.

 
 Ngụy Diên

Nếu như đối chiếu Hoàn Ôn “muốn lập công trạng, để nhận cửu tích” với Gia Cát Lượng “một khi chưa trừ mầm họa Ngụy, đế vị sẽ chưa yên. (Ta) mười mệnh còn dám nhận huống hồ là cửu tích”, có thể nhận thấy rất rõ rằng, hai người tuy không cùng thời đại nhưng đều cùng trong một bối cảnh lịch sử tương đồng, cách nói cũng rất giống nhau.

Tiến thêm một bước, người viết thấy rằng Gia Cát Lượng trước khi Bắc phạt đã nhận một bộ phận của cửu tích. Hậu chủ Lưu Thiện “chiếu ban tặng cho Gia Cát Lượng một binh khí vàng, một điệu múa hay, một bộ áo lông dày, 60 dũng sĩ” (Tam Quốc chí, quyển 35, Gia Cát Lượng truyện, chú dẫn Gia Cát Lượng tập). Cửu tích là do 9 loại vật phẩm hợp thành. “Công dương truyện, Trang Công nguyên niên” Hà Thể chú rằng: “Lễ có cửu tích, một là ngựa xe, hai là y phục, ba là lạc tắc (chỉ khí cụ định và chỉnh âm nhạc), bốn là cửa màu chu sa, năm là được tiến gần bệ vua, sáu là dũng sĩ, bảy là cung tên, tám là vũ khí, chín là rượu kê đen ”, Gia Cát Lượng được ban dũng sĩ và binh khí đều thuộc vật ban thưởng nằm trong danh sách cửu tích mà bộ áo lông dày và điệu múa là tương đương với “lạc tắc”. Từ đó có thể thấy, trước khi Gia Cát Lượng Bắc phạt, đã có “tam tích”. So với bá chủ thời Xuân Thu Tề Hoàn Công vẫn còn nhiều hơn một vật. Ngoài ra, trong Sử ký, Tề thái công thế gia có chép, Tề Hoàn Công “họp chư hầu ở Quy Khâu, Chu Tương Vương lệnh cho người coi việc lễ ban cho Tề Hoàn Công thịt tế lễ, cung tên đỏ, được đi đường lớn, lệnh không cần bái tạ”. Nếu theo cách tính toán suy luận của Lễ vĩ hàm văn gia về cửu tích, thì Tề Hoàn Công uy danh vang dội như vậy cũng chỉ mới được hai trong số cửu tích mà thôi.

Giống như Gia Cát Lượng và Hoàn Ôn, vị vua khai quốc công thần triều Lưu Tống Nam Tiều Lưu Dụ là một người may mắn. Việc Bắc phạt của ông ta trong phạm vi cục bộ thì thu được thành công, từ đó mà nhận cửu tích, cuối cùng thì lấy luôn giang sơn của họ Tư Mã. Ngụy thư, quyển 97, Đảo di Lưu dụ truyện, có chép: “Lưu Dụ có chí muốn thay nhà Tấn, lập công trạng bên ngoài, khiến mọi người đều sợ, còn chinh phạt Diêu Hoằng ở phía Tây”. Tháng 8 năm Nghĩa Hi thứ 20 (tức năm 416), Lưu Dụ dẫn quân Bắc phạt, trước khi đi, tâm phúc là Lưu Mục nói với tướng quân Long Đằng Vương Trấn Ứa rằng: “Ông (chỉ Lưu Dụ) đã giao cho ngươi lấy Quan Trung, người nên gắng sức”. Trấn Ứa nói: “Ta nay không lấy được Hàm Dương, Tế Giang mà ông không đạt được cửu tích cũng là cái lỗi của ông vậy” (Ngụy thư, quyển 97, Lưu Dụ truyện).

Thế quân Tấn như chẻ tre, vì thế tháng 10 năm đó đã hạ được Lạc Dương mà triều đình vẫn “chưa truy tặng cửu tích”, Vương Hoằng nhận lệnh của Lưu Dụ “về kinh sư, chỉ trích triều đình” (Tống thư, quyển 24, Vương Hoằng truyện), yêu cầu được ban cửu tích. Đến khi Lưu Dụ bình được Quan Trung, bắt sống được Diêu Hoằng, hậu duệ của Tần chủ, “Đức Tông (Phổ An Đế), phong cho Dụ 10 quận làm Tống Công, lại thêm chức Tướng quốc, cửu tích nên nghĩ đến chuyện tiếm quyền” (Ngụy thư, quyển 97, Lưu Dục truyện). Không lâu sau, Lưu Dụ cướp ngôi nhà Tấn xưng đế, kiến lập nên chính quyền Lưu Tống. Từ đó có thể thấy, Gia Cát Lượng muốn thông qua việc Bắc phạt của mình để được nhận cửu tích, thực hiện việc thoán ngôi theo “tiền lệ” của cổ nhân.

Khả năng chiến thắng trong việc Bắc phạt của quân Thục Hán rốt cục được bao nhiêu kỳ thực Gia Cát Lượng biết rất rõ. “Cuộc đối thoại ở Long Trung” (Long Trung đối) đã xác định chiến lược nhất quán rằng khi “thiên hạ có biến”, hai phía Ích Châu và Kinh Châu cùng xuất binh tấn công Tào Ngụy. Nhưng do “Quan Vũ thất bại, Tỉ Quy sa chân” nên chiến lược này sớm đã tan tành mây khói. Đất Ba Thục tuy gọi là “thiên phủ” nhưng rốt cục cũng chỉ là “đất một châu, làm sao so được với nước lớn (Tào Ngụy). Cho đến nhân dân, binh lính cũng chỉ được một phần chín” (Tam Quốc chí, quyển 35, Gia Cát Lượng truyện) chú dẫn Trương Nghiễm Mặc ký – Thuật tá thiên.

Có thể thấy, so về thực lực mọi mặt, Thục Hán không thể bằng Tào Ngụy. Tuy với nỗ lực trong ngoại giao của Gia Cát Lượng, Ngô Thục cũng khôi phục được mối quan hệ liên minh nhưng “vết nứt” trong quan hệ hai nước về căn bản không thể lấp kín lại được nên cả hai bên đều dè chừng nhau, và chỉ dừng lại ở việc cam kết không xâm phạm lẫn nhau. Dùng câu nói của Gia Cát Lượng: “Nhược bằng không có hành động gì mà hòa thuận với ta, việc Bắc phạt của ta cũng sẽ không phải lo phía Đông nữa,…” (Tam Quốc chí, quyển 35, Gia Cát Lượng truyện, chú dẫn Hán Tấn xuân thu). Nếu như không có sự phối hợp từ phía Đông Ngô, với lực lượng một mình quân Thục, muốn thu phục Trung Nguyên, thống nhất Hoa Hạ thì khả năng thành công tựa hồ bằng không. Thân là một chính trị gia tài ba, Gia Cát Lượng biết người biết ta, ông ta đối với mọi tình huống đều có cái nhìn rất sắc sảo vì thế không thể không biết điều này.

Như thế, vì sao Gia Cát Lượng biết là không thể mà vẫn làm? Về vấn đề này, Trần Thọ có cách giải thích rất thích đáng. Ông viết: “Cái chí của Lượng, tiến thì giống như con rồng vươn cao, con hổ vồ mồi, bao quát bốn biển, lùi thì có thể hùng cứ biên cương, trấn loạn bên trong. Tự cho là chưa đến thời cơ của mình nên thể tiến vào Trung Nguyên, chống đối với các nước mạnh, lấy việc dùng binh không giấu diếm, nhiều lần đạt được chiến công vinh quang” (Tam Quốc chi, quyển 35, Gia Cát Lượng truyện). Điều này cho chúng ta thấy rằng, Gia Cát Lượng muốn thông qua việc Bắc phạt để chứng minh rằng chính quyền Thục Hán muốn “tiến vào Trung Nguyên”, cùng với nước mạnh như Tào Ngụy phân cao thấp, duy chỉ có một người đủ khả năng mà thôi. Do đó đây là một bước tiến cực kỳ trọng yếu trong mưu đồ thoán ngôi của Gia Cát Lượng. Đó cũng là lý do vì sao Gia Cát cứ phải ra Kỳ Sơn vậy.

Khổng Minh và giấc mơ Hoàng đế "thỏ non" (Phần II)

... Một số học giả cho rằng, Ngụy Diên dâng kế muốn tự mình dẫn 5 ngàn tinh binh đến Bao Trung, từ Tí Ngọ Cốc đánh úp Trường An, Gia Cát Lượng dẫn đại quân xuất binh ở Tà Cốc, hẹn gặp ở Trường An, đó là mưu kế, “như thế, nhất cử mà Hàm Dương cho đến Tây có thể định được” (Tam Quốc chí, quyển 40, Ngụy Diên truyện, chú dẫn Ngụy lược). Nếu như Gia Cát Lượng sử dụng mưu kế này, rất có thể việc Bắc phạt đã thành công. Đáng tiếc là Gia Cát Lượng lại dè dặt đến mức thiếu can đảm...

3. Năm lần Bắc phạt, Khổng Minh vẫn hoài công trong canh bạc đế vương?


Trần Thọ bình về Gia Cát Lượng rằng: “Lượng có tài, trị quân tính kế lâu dài, mưu kế chỉ là trước mắt, trọng ở việc lo lắng cho dân, đối đãi tốt với tướng lĩnh” (Tam Quốc chí, quyển 35, Gia Cát Lượng truyện). Trong cuộc đời quân sự của Gia Cát Lượng, rõ ràng việc sử dụng mưu kế là sự thực, nhưng bình luận của Trần Thọ lại hạ thấp điều này ở Gia Cát Lượng, và điều đó lại trở thành nhận thức chung của các nhà sử học đương đại về thời Tam Quốc. Nhưng mà, vì sao Gia Cát Lượng không muốn sử dụng mưu kế, đây là sự khiếm khuyết trong tài năng quân sự của ông ta hay còn là vì nguyên nhân nào khác?

Trương Nghiễm của Đông Ngô khi bình luận về điểm vượt trội trong tài năng của Gia Cát Lượng so với Tư Mã Ý đã chỉ ra rằng: “Khổng Minh chống đối phía Bắc, đến mức lập cả đội ngũ canh chiến (lính trong nông dân), hình pháp chỉnh tề, dẫn quân hàng vạn, tiến nhanh ra Kỳ Sơn, cảm khái mà uống nước sông Mã. Trọng Đạt ở chỗ gấp 10 lần, ra oai dân chúng, dùng quân tinh nhuệ, không có ý bắt giặc, nhiệm vụ chỉ là bảo toàn lực lượng, khiến cho Khổng Minh tự đến rồi tự đi” (Tam Quốc chí, quyển 35, Gia Cát Lượng truyện).

Quả thực, Trương Nghiễm ca ngợi Gia Cát Lượng mà chê bai Tư Mã Ý có phần hơi phóng đại nhưng cũng phản ánh thái độ của người thời đó ca ngợi việc sử dụng mưu kế của Gia Cát Lượng không ngừng. Là một nhà quân sự thời Tam Quốc, không thể không biết câu “xuất kỳ chế thắng” (chiến thắng phi thường, nhanh chóng) của người dụng binh. Nhưng sử dụng mưu kế là rất nguy hiểm, nếu như cơ mưu không thành, toàn quân sẽ thất bại nặng nề, bản thân Gia Cát Lượng cũng sẽ thân bại danh liệt, việc xưng đế cũng đừng mong bàn tới. Câu chuyện Gia Cát Lượng “tranh đường” Bắc phạt với Ngụy Diên cũng từng tạo ra rất nhiều hứng thú cho người đời sau.

Một số học giả cho rằng, Ngụy Diên dâng kế muốn tự mình dẫn 5 ngàn tinh binh đến Bao Trung, từ Tí Ngọ cốc đánh úp Trường An, Gia Cát Lượng dẫn đại quân xuất binh ở Tà cốc, hẹn gặp ở Trường An, đó là mưu kế, “như thế, nhất cử mà Hàm Dương cho đến Tây có thể định được” (Tam Quốc chí, quyển 40, Ngụy Diên truyện, chú dẫn Ngụy lược). Nếu như Gia Cát Lượng sử dụng mưu kế này, rất có thể việc Bắc phạt đã thành công. Đáng tiếc là Gia Cát Lượng lại dè dặt đến mức thiếu can đảm


 Ngụy Diên

Một số các nhà sử học khác lại ra sức bảo vệ cho mưu kế “đi đường lớn, có thể lấy được Long Hữu” của Gia Cát Lượng. Họ cho rằng Tí Ngọ cốc tuy là đường tắt để tiến ra Bắc nhưng hệ số nguy hiểm cực kì lớn, nếu như có quân Ngụy mai phục trong cốc, nhẹ thì mất hết công sức, nặng thì toàn quân bị tiêu diệt. Tôi cho rằng cả hai loại ý kiến này đều chỉ dừng lại ở việc phân tích trên quan điểm quân sự mà không chú ý đúng mức đến những bối cảnh với những nguyên nhân chính trị ẩn sâu bên trong.

Thành bại trong chiến dịch Bắc phạt sẽ quyết định an nguy của chính quyền Thục Hán, cũng quan hệ đến việc mục tiêu chính trị của Gia Cát Lượng có trở thành hiện thực hay không, Gia Cát Lượng biết rõ lợi hại trong đó nên dùng binh sao không thể e dè thận trọng cho được? Thực tế thì, đối với việc Bắc phạt, Gia Cát Lượng cũng không hoàn toàn kỳ vọng quá lớn, một nước Thục yếu đem đối chọi với một nước mạnh như Tào Ngụy điều này đã tạo nên một kỳ tích trong lịch sử quân sự rồi. Chỉ cần chiếm được một phần nhỏ của biên cương nước Ngụy, giành được những chiến thắng cục bộ trong chiến tranh cũng có thể chứng minh tài năng quân sự lỗi lạc của Gia Cát Lượng, có thể mang đến một uy vọng chính trị cực kỳ lớn cho ông ta.

Nếu như thực hiện kế của Ngụy Diên, Gia Cát Lượng có thể đắc thủ trong việc đánh úp Trường An, nhưng không quá 20 ngày sau đó, Ngụy quân hoàn toàn đủ lực lượng để tập hợp, tổ chức phản công (đây cũng là dự đoán của bản thân Ngụy Diên), quân Thục tất nhiên phải đối mặt với một cuộc chiến sinh tử với quân Ngụy ngay tại Quan Trung, trung tâm của nước Ngụy, “hai bên giao chiến, không một binh tốt nào có thể sống sót” (đây là lời nói của Triệu Vân khi khuyên can Lưu Bị phạt Ngô trả thù cho Quan Vũ) (Tam Quốc chí, quyển 60, Triệu Vân truyện, dẫn chú Vân biệt truyện).

Ngụy quân còn mạnh hơn Ngô, một khi Thục giao chiến với Ngụy, đương nhiên “không một binh một tốt nào có thể sống sót”. Nếu như ngày tháng chiến tranh kéo dài, Gia Cát Lượng sẽ không thể quay về Thục làm chủ triều chính, sợ đến một ngày quyền hành rơi vào tay người khác. Nếu như một ngày nào đó gặp phải thất bại, Thục quân tổn thất nặng nề, Gia Cát Lượng không những không thực hiện được âm mưu thoán ngôi mà chức vị Thưà tướng cũng khó mà giữ được. Quyết sách quyết định sống còn của vận mệnh chính trị của cá nhân, đương nhiên Gia Cát Lượng không thể không e dè, cẩn trọng.

Tâm trạng dè dặt của Gia Cát Lượng đối với việc Bắc phạt hoàn toàn không chỉ là phỏng đoán chủ quan, những ví dụ tương tự như vậy trong lịch sử có thể chứng minh rất rõ điều này. Đại tướng quân Đông Tấn Hoàn Ôn trong thời khắc quan trọng nhất của chiến dịch Bắc phạt cũng không muốn cùng cường địch quyết chiến tại Quan Trung. Tháng 2 năm Vĩnh Hòa thứ 10 (tức năm 354), Hoàn Ôn dẫn quân Bắc phạt, thế như chẻ tre, mũi nhọn tiến thẳng Tràng An. Vương Mãnh, danh sĩ phương bắc: “Nghe Hoàn Ôn vào Quan Trung, mới đến gặp, bàn chuyện thế sự, bên cạnh không có một ai, Ôn thấy lạ, hỏi rằng: ‘Ta phụng mệnh thiên tử, dẫn đầu 10 vạn tinh binh, trừ hại cho trăm họ mà sao hào kiệt vùng Tam Tần chưa thấy ai tới là sao vậy?’ Mãnh mới nói rằng: ‘Ông không phải từ xa ngàn dặm, vào sâu vùng địch, nay Trường An đã gần kề mà không thể qua dòng sông Bá, trăm họ chưa biết đến ông nên mới không đến đấy thôi’. Hoàn kinh ngạc không nói được gì”.

Hồ Tam Tỉnh chú rằng: “Mãnh thật giỏi trong việc chỉ ra tâm sự của Hoàn Ôn, cho rằng Ôn lấy việc phạt Tần nhưng thực là muốn dùng công trạng đó mà khuất phục Giang Đông chứ không hề có tâm diệt nghịch tặc trừ hại cho dân, thu hồi lãnh thổ. Nhưng mà dựa vào cái gì để vượt sông Bá, tấn công Trường An? Ôn không thể đáp ứng được gì. Nhưng ta xem việc dụng binh của Hoàn Ôn, tấn công Tần đến sông Bá, tấn công Yến đến Phương Đẩu đều thừa thắng mà tiến binh, áp sát thủ đô hai nước này đều phải dừng lại trông ngóng, xem xét cẩn trọng, không muốn vội vàng mà chuốc lấy thất bại” (Tư trị thông giám, quyển 99, Tấn ký, 21). Một lời của Hồ Tam Tỉnh đã làm thông trên dưới, Hoàn Ôn Bắc phạt, quân đã đến sát Trường An vì sao không tấn công được nữa, đó là vì “cẩn trọng ngóng đợi” vậy. Nhưng vì sao phải cẩn trọng ngóng đợi tình hình. Thứ nhất là ông ta cần bảo toàn thực lực, thứ hai là sợ thất bại và cả hai điều này đều là trở ngại rất lớn trong mưu đồ tiếm ngôi tự lập mình làm hoàng đế của ông ta.

Lưu Dụ Bắc phạt, chiến quả cũng rất huy hoàng, từng có lần hạ thành Trường An. Nhưng Lưu Dụ gấp gáp muốn thoán đoạt nhà Tấn, sợ lưu lại Quan Trung thì triều đình sẽ có biến nên đến năm sau chỉ để lại đứa con Lưu Nghĩa mới chỉ 12 tuổi ở lại trấn thủ Trang An, còn bản thân thì gấp gáp trở về Kiến Khang. Sử sách chép lại rằng: Khi Lưu Dụ đi, dân chúng theo ra của thành mà than rằng: “Tàn dân chưa kịp thấm nhuần ơn của vương, tới nay đã gần trăm năm, mới nhìn thấy mũ quan, người người đã chúc mừng, mười lăng ở Trường An đều là phần mộ gia đình người, cung Hàm Dương cũng là nhà của người, bỏ Tràng An thì còn ra sao nữa!”. Dục nghe vậy kinh ngạc mà nói rằng: “Ta nhận mệnh triều đình, không thể lưu lại ở đây lâu được” (Tư trị thông giám, quyển 118, Tấn kí, 41).

Đây là những lời nói lừa người cũng là lừa chính mình của Lưu Dụ. Vương Mãi Đức nhìn thấy rất rõ mưu đồ này của Lưu Dụ, ông ta chỉ ra rằng: “Với địa thế của đất Quan Trung mà để một đứa con nhỏ ít tài lại giữ, thật là khác xa những quy tắc thông thường của việc dụng binh. Vội vàng nhếch nhác mà trở về chỉ là muốn nhanh chóng thoán ngôi, không hề có ý ở lại Trung Nguyên” (Tấn thư, quyển 130, Hách Liên Bột Bột ký tải). Những gì xảy ra sau đó quả thực không khác nhiều lắm so với những dự định của Vương Mãi Đức, Lưu Dụ “muốn nhanh chóng thực hiện mưu đồ thoán ngôi”, nên thà bỏ đất Quan Trung mà không hề ngoái lại. Sau khi việc thoán ngôi nhà Tấn được thực hiện không lâu, Trường An lại một lần nữa rơi vào tay người Hồ.

So với lực lượng Đông Tấn, Thục Hán còn lâu mới có thể sánh kịp. Cho nên Gia Cát Lượng Bắc phạt từ đầu đến cuối cũng giống như đùa với lửa vậy. Từ mục tiêu và phương hướng Bắc phạt, ông ta chọn Long Hữu làm điểm xuất phát, những muốn “xâm chiếm từng phần”(Tam Quốc chí, quyển 44, Tưởng Uyển truyện), “mở rộng biên giới” (Tam Quốc chí, quyển 37, Pháp Chính truyện), giành chiến thắng trong những cuộc chiến cục bộ. Từ thế cục chính trị, địa lý cho đến lòng người, Long Hữu chắc chắn là một mắt xích yếu nhất trọng khu vực thống trị của Tào Ngụy, cũng là điểm dễ công phá nhất vì thế Gia Cát Lượng cho rằng “lấy được Long Hữu”, tức là có thể nắm chắc thắng lợi, “kế thập toàn tất thắng mà không phải lo nghĩ, nên không dùng kế của Diên”.

Ngụy Diên giỏi nuôi sĩ tốt, dũng lược lại hơn hẳn người thường, là thượng tướng tuyệt luân phi thường duy nhất của quân Thục, Lưu Bị cho Ngụy Diên làm đô đốc Hán Trung khiến “mọi người đều kinh ngạc”. Trong quá trình Bắc phạt, Ngụy Diên từng dẫn quân đánh bại danh tướng của Ngụy là Quách Hoài, lập công trạng rất hiển hách. Khi Gia Cát Lượng tiến quân Bắc phạt, “Thục quân ít người tinh nhuệ, tướng giỏi không nhiều”, (Tam Quốc chí, quyển 35, Gia Cát Lượng truyện, chú dẫn Viên Tử). Nhưng đối với một viên tướng tài hiếm thấy như Ngụy Diên lại không hề được giao một trọng trách nào.

“Diên mỗi lần theo Lượng xuất binh đều muốn xin quân vạn người đi theo đường khác, phối hợp với Lượng tấn công Quan Trung. Giống như câu chuyện của Hàn Tín, Lượng tìm cách chế ngự mà không nghe theo. Diên thường cho rằng Lượng nhát gan, than rằng tài năng của mình không được dùng hết”(Tam Quốc chí, quyển 40, Ngụy Diên truyện). Tài năng quân sự của Ngụy Diên, Gia Cát Lượng không phải không biết nhưng vì sao lại không muốn tận dụng hết tài năng của Diên? Trong đó ắt hẳn có nguyên nhân sâu xa cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng.

Bắc phạt là vốn liếng trong mưu đồ thoán ngôi của Gia Cát Lượng, do đó quyền chỉ huy chiến dịch Bắc phạt ắt hẳn Gia Cát Lượng phải giữ rịt trong tay mình. Ngụy Diên có thể lập được chiến công nhưng khi chịu sự chỉ huy Gia Cát Lượng thì đó là thành tựu của một Gia Cát Lượng thần cơ diệu toán. Nhưng Ngụy Diên vốn tính cao ngạo, muốn học theo “câu chuyện của Hàn Tín” năm xưa, đơn độc dẫn đầu một đoàn quân tấn công phía khác. Trong cách nhìn của Gia Cát Lượng, đó là cách để Ngụy Diên thoát khỏi bàn tay ông ta để tự “lãnh đạo”, hòng tranh đoạt chiến công Bắc phạt với ông ta. Điều nay đương nhiên sẽ gặp phải sự “hạn chế mà không theo” của gia Cát Lượng.

 
 Khổng Minh

Từ khi ra khỏi Long Trung, con đường thăng tiến chính trị của Gia Cát Lượng có thể nói là vô cùng thuận buồm xuôi gió. Từ một nông dân “chỉ lo toàn tính mệnh trong thời loạn thế, chứ không cầu nổi danh chốn chư hầu”, một bước trở thành tể tướng, nắm đại quyền trong triều chính Thục Hán. Khi Lưu Bị hứa hẹn về việc tự lập mình làm vua, Gia Cát Lượng cũng đã không còn cách ngai vàng bao xa nữa. Nhưng mà công cuộc Bắc phạt chính là một đỉnh núi quá cao không thể trèo lên nổi ngăn chặn con đường tiến đến ngôi vị chí tôn của Gia Cát Lượng.

Từ năm 228 đến năm 234, Gia Cát Lượng 5 lần dẫn quân phạt Ngụy, có thể nói là nhiều năm liên tiếp huy động dân chúng mà vẫn hoài công, dẫn tới việc nước Thục binh dân đều mỏi mệt. Để phục vụ cho công việc Bắc phạt, hầu hết những thanh niên trai tráng đều phải sung quân, để đảm bảo việc hậu cần, còn huy động cả phụ nữ. Gia Cát Lượng “không úy lạo quân sĩ, không độ tuổi nào không bắt đi lính nhưng chưa tiến được tấc đất nào, cũng chưa mở rộng được cơ nghiệp đế vương”, mà ngược lại “khiến trong nước chịu cảnh hoang tàn, tứ xứ khổ vì phục dịch” (Tam Quốc chí, quyển 35, Gia Cát Lượng truyện, chú dẫn Trương Nghiễm, Mặc ký – Thuật Tá biên), dẫn đến sự bất mãn trong dân chúng và binh sĩ.

Trong cục diện đó, kẻ một đời làm việc thận trọng như Gia Cát Lượng đương nhiên sẽ không dám thoán đoạt ngôi nhà Hán. Khi sao rơi ở Quan Trung, Gia Cát Lượng mắc bệnh ở Ngũ Trượng Nguyên, mục tiêu soán ngôi của ông ta cuối cùng đã không thể trở thành hiện thực được. Để thực hiện việc Bắc phạt, Gia Cát Lượng quả thực đã “khom mình tận tụy, chết vẫn chưa thôi”, nhưng mà mục tiêu thực chất là thế nào? Ngoại trừ lòng trung thành mà người đời ngưỡng vọng, có che đậy trong đó một mưu đồ không dễ nhận biết khám phá? Đương nhiên muốn làm rõ những bí mật này là một việc không phải dễ dàng, đúng như Bạch Cư Dị trong bài Phóng ngôn ngũ đạo tính tự có viết rằng:

Chu công khủng cụ lưu ngôn nhật,

Vương Mãng khiêm cung vị soán thời,

Hướng sử đương sơ thân tiện tử,

Nhất sinh chân ngụy phục thùy tri


(Nghĩa là: Lời của Chu Công mà còn lưu đến đời sau, Vương Mãng khi vẫn khiêm cung mà chưa dám thoán ngôi, Giả sử như khi đó mà thân đã chết thì một đời chân hay ngụy nào ai là người biết được).

4. Thoán ngôi nhà Hán, Gia Cát Lượng tội ít công nhiều?


Kỳ thực, mục tiêu của dục vọng con người luôn luôn thay đổi theo điều kiện cả chủ quan lẫn khách quan. Như Tào Tháo “cũng chưa có ý định ngấp nghé những thần khí (của cửu tích)” (Trập nhị sử trát ký, quyển 6, điều Tuân Vực truyện). Tào Tháo trong Nhượng huyện tự minh bản chính lệnh có nói: từ lúc ban đầu khởi binh, cũng muốn “vì quốc gia thảo phạt nghịch tặc để lập công, cũng muốn phong để làm chinh tây tướng quân nhưng sau đó đề vào mộ chí của mình dòng chữ ‘Mộ của chinh tây tướng quân Tào Hầu nhà Hán’, đó là cái chí của ta vậy” (Tam Quốc chí, quyển 1, Vũ đế ký, chú dẫn Ngụy Vũ cố sự). Cái chí “không thua kém ai” của Tháo là nảy sinh dần dần trong thời kỳ “tam phân thiên hạ thì mình chiếm hai phần”.

Gia Cát Lượng sinh ra vào thời loạn, cũng gặp được minh chủ, ban đầu tất nhiên cũng dốc toàn lực để báo đáp ơn tri ngộ của Lưu Bị. Nhưng sau đó, “đến thời Hậu chủ, gia Cát Lượng công đức đã vượt hơn người thường” (Tam Quốc chí, quyển 36, Triệu Vân truyện), đồng thời cũng nắm trong tay toàn bộ quyền hành chính trị và quân sự của Thục Hán thì ông ta còn cam tâm tình nguyện phò tá ấu chúa nữa hay không đó là điều rất đáng nghi ngờ. Thời đại Hán Ngụy, hoàng quyền suy thoái đến cực điểm, luân lý cương thường của đạo quân thần cũng bị phá hoại trầm trọng. Điều này tạo cho quyền thần được nhận cửu tích một định hướng dư luận và đồng thời cung cấp mảnh đất chính trị cho việc thoán ngôi, thay triều đổi chủ. Trong bối cảnh lịch sử đó, nếu có thời cơ chín muồi, Gia Cát Lượng nhất định sẽ làm theo “câu chuyện Hán Ngụy”, tạo nên một sự tích thoán ngôi là điều hoàn toàn có thể.

Điều đáng nói là hàng trăm ngàn năm sau khi Gia Cát Lượng chết, mọi người tựa hồ không có ngoại lệ đều nâng Gia Cát Lượng trở thành khuôn mẫu của bậc hiền tướng tôi trung, nhưng người viết thông qua những gì đã phân tích lại cho rằng Gia Cát Lượng có âm mưu và cả khả năng thoán ngôi nhà Thục Hán. Điều này liệu rằng có tổn hại đến hình tượng của Gia Cát Lượng trong tưởng tượng của mọi người hay không?

Tôi cho rằng, nếu như Gia Cát Lượng lật đổ vương triều Thục Hán, tự mình lên ngôi chí tôn, giống như họ Tào thay nhà Hán, họ Tư Mã thay nhà Ngụy, cũng là chuyện thay triều đổi chủ thường xảy ra trong lịch sử. Luân lý cương thường của xã hội phong kiến và quan niệm chính thống từ lâu đã bị phủ nhận mà còn bàn đến vấn đề công tội của việc thoán ngôi của các quyền thần thì thực là vô nghĩa. Thời cổ đại hầu hết các bậc trí giả đều cho rằng: “Thiên hạ phi nhất nhân chi thiên hạ, duy hữu đức giả cư chi” (Nghĩa là: Thiên hạ không phải là thiên hạ của một người, duy chỉ có người có đức mới có thể ở vậy) và “tự cổ đến nay, người có khả năng trừ hại vì bách tính, thì người đó là chủ của dân vậy” (Tam Quốc chí, quyển 1, Vũ đế kỷ, dẫn chú, Ngụy thị xuân thu). Sở dĩ cho đến hiện tại chúng ta vẫn bình luận về công tội của Vương Mãng, Tào Tháo, Tư Mã Chiêu,… đều là không lấy quy luật phủ định cái cũ, cái lạc hậu làm tiêu chí để phê phán. Điều này, đối với Gia Cát Lượng mà nói cũng không khác gì.

Phân tích một cách khách quan, Gia Cát Lượng thay nhà Hán xưng đế không chỉ coi là tội trạng mà ngược lại có thể coi là thuận theo sự phát triển của lịch sử. “Trời chán ghét đức nhà Hán đã lâu rồi” (Hậu Hán ký, Hiếu Hiến đế kỷ). Câu nói này đã chỉ ra một cách cực kỳ chuẩn xác khuynh hướng dư luận trong xã hội đương thời: Vương triều Đông Hán hủ bại đến cùng cực, tất yếu không thể tồn tại được nữa. Đồng thời “thiên hạ đều biết phúc nhà Hán đã tận, đã đến lúc một triều đại khác thay thế”, đây là sự phát triển tất yếu của lịch sử, ai cố công ngăn trở cũng là vô ích.

Khí số triều Hán đã hết, vì sao thiên tử nhà Hán vẫn được phò tá? Vì sao không thể phò tá mà cũng không dám thay? Từ cổ đến nay, khi đế vương không còn dũng khí, để đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn thì đó là thời của những anh hùng tự nhiệm. Thế cục cuối đời Đông Hán là “quận quận đều xưng đế, huyện huyện tự gọi là vương”, đúng như Tào Tháo nói: “Nếu như đất nước mà không có ta, không biết là sẽ có bao nhiêu người xưng đế, bao nhiêu người xưng vương” (Tam Quốc chí, quyển 1, Vũ đế kỷ, chú dẫn Ngụy Vũ cố sự). Viên Thiệu, Lưu Bị, Tôn Quyền,… đều gọi Tào Tháo là giặc Hán, kỳ thực ngay chính bản thân họ cũng đâu muốn làm thân phận là thần dân của nhà Hán, họ cũng muốn một ngày được xưng đế, kêu vương như Tào Tháo mà thôi.

Tài trí Gia Cát Lượng tuyệt đối không thua kém Tào Tháo, Tôn Quyền hay Tư Mã Ý, trong tay ông ta lại còn di chiếu của Tiên đế (Lưu Bị) cho phép mình tự lên ngôi, nếu Trời cho thêm vài năm, Gia Cát Lượng sống thêm vài tuổi, nếu việc Bắc phạt thành công, chiếm được Trung Nguyên, bản thân Gia Cát Lượng hoặc con cháu ông ta, nhận lễ cửu tích, phế bỏ nhà Thục tự mình lên làm hoàng đế cũng không phải là chuyện không thuận lý, chúng ta cũng hà tất phải kinh ngạc?

Hy Văn (Vietimes) dịch từ Đưa Khổng Minh rời khỏi thánh đàn của tác giả Chu Tử Ngạn, NXB Công nhân Trung Quốc, 2007.